Cuộc cách mạng ruộng đất ở quê hương "5 tấn"
Trước khi trở thành đại điền, sở hữu 100 mẫu lúa, cùng dàn máy móc canh tác hiện đại trị giá hàng tỷ đồng, chị Nguyễn Thị Hưng ở huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình cũ – nay là xã Tiền Hải, tỉnh Hưng Yên từng là một nông hộ nhỏ, chỉ trồng vỏn vẹn 2 sào lúa.
“Đủ gạo ăn là còn may chứ nói gì đến làm giàu từ trồng lúa”, chị Hưng nhớ lại thời điểm đầu những năm 2000. Điều ấy trái ngược với hình ảnh hào hùng của giai đoạn 1965 - 1975, Thái Bình dốc bồ cho kháng chiến hơn một triệu tấn thóc, trở thành mảnh đất của "quê hương năm tấn" anh hùng đi vào bao áng thơ văn, nhạc họa.
Đầu tháng 7, khi vụ hè thu đã thu hoạch xong xuôi, chị Hưng ngồi nhẩm tính, giá lúa vụ này giảm hơn so với năm ngoái. Tuy nhiên, nếu tính có nguồn thu từ làm dịch vụ nông nghiệp, sẽ vẫn thu hơn 1 tỷ.
Thành quả có được ngày hôm nay, chia sẻ với tôi, chị Hưng bảo, trong hành trình trở thành đại điền, bản thân chị đã được tận mắt chứng kiến biết bao thăng trầm, sự "chìm nổi" của ruộng đất, cây lúa.

Chị Nguyễn Thị Hưng ở huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình cũ – nay là xã Tiền Hải, tỉnh Hưng Yên cùng chồng kiểm tra sinh trưởng của lúa trước khi thu hoạch vụ hè thu 2026. Ảnh: Bình Minh
Hồi ấy, cả gia đình không thể trông cậy vào 2 sào lúa, năm 2004, chị Hưng xin làm công nhân phụ lò cho một công ty sản xuất thủy tinh. Mức lương nhận được gần 400.000 đồng/tháng. Chồng chị đi làm phụ hồ, được trả 30.000 đồng/ngày. Ngày mùa vợ chồng chị tranh thủ thay nhau cấy được ít nào hay ít đó để lấy thóc ăn.
Tuy nhiên, giống như nhiều địa phương khác ở miền Bắc ngày ấy, ruộng đồng ở Tiền Hải manh mún, xôi đỗ, xen kẹt, chưa kể hay bị thiên tai, dịch bệnh, cộng với chi phí thuốc BVTV, phân bón ngày càng tăng khiến thu nhập của người trồng lúa bèo bọt, thậm chí thua lỗ.
Làm ruộng vất vả mà thu nhập chẳng bằng công nhân nên sau vài năm, chị Hưng quyết định bỏ hẳn ruộng. Lúc bấy giờ tình trạng bỏ ruộng bắt đầu lác đác xuất hiện ở Tiền Hải.
Để thúc đẩy sản xuất, kéo nông dân quay trở lại đồng ruộng, tỉnh Thái Bình đã có chủ trương khuyến khích người dân ứng dụng cơ giới hóa. Năm 2008, một số nông dân đầu tiên ở xã Bình Minh (huyện Kiến Xương) đã tiên phong đầu tư mua máy gặt đập liên hợp.
Theo số liệu từ Chi Cục Phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình cũ, giai đoạn 2010-2015, toàn tỉnh đã hỗ trợ khoảng 184 tỷ đồng cho người dân mua 1.482 máy gặt đập liên hợp; 630 máy làm đất; 1.650 công cụ gieo sạ; 40 máy cấy; 19 máy gặt rải hàng Việt Nam... và chị Hưng là một trong số các hộ được hỗ trợ.
Đến năm 2010, chiếc máy gặt đập xuất hiện lần đầu tiên trên những cánh đồng lúa ở Tiền Hải. Đúng lúc trên đường đi làm về, thấy nhiều người đứng bu lại xem, tò mò, chị Hưng cũng chen vào xem thử.
Lần đầu tiên trong đời nhìn thấy chiếc máy gặt, chị “mê tít”. Chỉ vài đường cua máy đã gặt xong cả cánh đồng rộng lớn. Nhìn chủ máy thu về “tiền tươi thóc thật”, nông dân lại nhàn hơn, ngay tối hôm ấy chị đã bàn với chồng về việc chuyển hướng sang đầu tư máy móc để làm dịch vụ nông nghiệp.
“Nghe tôi bàn bạc thì ông xã đồng ý ngay. Năm 2011, tôi sắm chiếc máy gặt cầm tay của Trung Quốc, giá 230 triệu đồng, trong đó, tỉnh hỗ trợ 90 triệu, số còn lại là vay mượn cộng với tiền tích góp”, chị Hưng nói.

Hiện nay, gia đình chị Hưng đang thuê 100 mẫu ruộng để trồng lúa. Ngoài ra, chị cũng làm dịch vụ nông nghiệp, mỗi năm thu nhập hơn 1 tỷ đồng. Ảnh: Bình Minh
Chị Hưng cũng là một trong các hộ có máy gặt đầu tiên ở Tiền Hải. Chỉ sau 2 năm làm dịch vụ gặt thuê, chị đã nhanh chóng thu hồi vốn, trả nợ. Không dừng lại, chị mạnh dạn “lên đời” - khi sắm thêm một máy gặt đập của Nhật Bản giá 640 triệu, trong đó, tỉnh tiếp tục hỗ trợ 140 triệu.
Có thêm máy, cũng đồng nghĩa việc nhiều hơn, bà con các nơi có nhu cầu gặt đập ngày càng tăng. Đỉnh điểm, năm 2017, chị Hưng làm dịch vụ trên 600 mẫu lúa.
Mặc dù cơ giới hóa xuất hiện trên những thửa ruộng ở Thái Bình từ khá sớm, nhưng một thực tế đáng buồn, đó là chưa thể giải quyết dứt điểm tình trạng bỏ ruộng.
"Tích tụ ruộng đất vẫn là một bài toán nan giải. Không còn mặn mà với đất đai, nhiều hộ còn viết đơn xin bỏ ruộng”, chị Hưng nhớ lại.
Thực trạng bỏ ruộng “nóng” lên khi cử tri đưa vấn đề này ra kỳ họp lần thứ 7, khóa XV của HĐND tỉnh Thái Bình, ngày 12/12/2013. Thống kê tại thời điểm đó, toàn tỉnh Thái Bình có 5.756 hộ gia đình, cá nhân ở 131 xã có đất sản xuất nông nghiệp nhưng bỏ hoang không sử dụng. Tổng diện tích là 373ha, gồm đất giao ổn định 232ha, đất thầu khoán của UBND cấp xã 141ha.
Đại điền sinh ra từ... cuộc cách mạng ruộng đất
Để “hồi sinh” những mảnh ruộng hoang hóa, tích tụ thành những cánh đồng mẫu lớn, ngày 9/12/2015, HĐND tỉnh Thái Bình đã ban hành Nghị quyết về việc phê duyệt Đề án tái cơ cấu lại ngành nông nghiệp tỉnh Thái Bình đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Đây được coi là quyết sách, động lực quan trọng để giải quyết tinh trạng bỏ ruộng lúc bấy giờ.
Mục tiêu của Đề án, đến năm 2020, tỷ lệ diện tích đất canh tác được tích tụ với quy mô từ 2 ha trở lên đạt trên 50%. Giải pháp đột phá, đó là tăng quy mô đồng ruộng, tiến lên nền sản xuất hàng hóa lớn, tập trung.
Như một cuộc “cách mạng”, giai đoạn 2015-2017, quá trình tích tụ ruộng đất trên "quê hương năm tấn" diễn ra mạnh mẽ khi tỉnh Thái Bình bắt đầu chủ trương đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp, khuyến khích sản xuất quy mô lớn để khắc phục tình trạng ruộng đất manh mún, bỏ hoang…
Một luồng gió mới trên những đồng đất ở Thái Bình - đất đai được “cỏi trói”.

Chị Hưng có thể tự điều kiện tất cả các loại máy móc như máy cày, máy cấy, drone. Ảnh: NVCC
Từ năm 2015-2020, chính sách hỗ trợ cơ giới hóa nông nghiệp của tỉnh Thái Bình đã tạo nên những chuyển biến lớn. Sở NN&PTNT tỉnh đã phối hợp với các cơ quan ban, ngành liên quan hỗ trợ máy gặt, máy cấy cho nhiều địa phương. Các hộ tích tụ ruộng đất cũng nằm trong nhóm đối tượng được hỗ trợ.
Đặc biệt, năm 2020 và 2021, HĐND tỉnh Thái Bình đã tiếp tục ban hành Nghị quyết số 40 và Nghị quyết số 29 nhằm hỗ trợ liên kết tiêu thụ sản phẩm, cơ giới hóa và tích tụ ruộng đất giai đoạn 2021-2025.
Từ phong trào tích tụ ruộng đất, những cánh đồng mẫu lớn ở Tiền Hải được hình thành. Nắm lấy cơ hội này, bắt đầu từ năm 2019, chị Hưng đã thuê lại nhiều diện tích ruộng bỏ hoang để trồng lúa, từ đây, hành trình trở thành đại điền bắt đầu mở ra.
Ban đầu chị Hưng thuê 5 mẫu, đến năm 2025, chị đã tích tụ, trồng 100 mẫu lúa (36ha). “Trước đây tôi thường cây giống lúa thuần BC15, Đài Thơm. Vài vụ gần đây, chuyển đổi sang Nếp Cô Tiên, Japonica, DS1. Những giống này cho sản lượng và giá cả ổn định”, chị Hưng chia sẻ. Sau khi thu hoạch, toàn bộ lúa được chị Hưng bán tươi ngay tại ruộng cho thương lái.
Để canh tác cả trăm mẫu lúa và làm dịch vụ, chị Hưng đầu tư thêm 2 máy gặt, 2 máy cày, 2 máy cấy, 1 drone (máy bay không người lái trị giá 360 triệu đồng).
"Tôi có thể điều khiển thành thục tất cả các loại máy đang có", chị nói.
Chị Hưng so sánh, một máy gặt đập liên hợp tuỳ công suất mỗi ngày có thể thu hoạch 5-7 ha lúa, còn nếu gặt tay phải cần 100-140 người.

Gia đình chị Hưng đang cấy các giống lúa như Nếp Cô Tiên, Japonica, DS1. Ảnh: Bình Minh
Từ một phụ nữ chỉ quen tay lấm chân bùn, chị học lái và trở thành "phi công" điều khiển drone điêu luyện. Theo chị, drone là giải pháp giúp các hộ trồng lúa giải quyết được bài toán thiếu nhân công lao động, giảm nhiều chi phí. Một drone phun thuốc có thể làm được 10 ha mỗi tiếng, trong khi người dùng bình phun thủ công truyền thống làm tối đa được 2 ha một ngày.
Suốt cả vụ lúa, chị Hưng gần như không phải đặt chân xuống ruộng. Từ làm đất, sạ giống đến bón phân, thu hoạch đều được máy móc đảm nhiệm.
Xã Tiền Hải là vùng ven biển, nơi những cánh đồng lúa trải dài hàng trăm ha và chịu nhiều ảnh hưởng của thời tiết và gió mùa, việc canh tác luôn đòi hỏi sự chủ động và kinh nghiệm của người nông dân. Trong những năm gần đây, chị Hưng bắt đầu tìm hiểu và thử nghiệm nhiều phương thức sản xuất mới nhằm nâng cao hiệu quả canh tác.
Một trong những giải pháp mà chị Hưng áp dụng là Cropwise Grower, cho phép nông dân chẩn đoán sâu bệnh bằng trí tuệ nhân tạo (AI), theo dõi thời tiết và quản lý lịch canh tác ngay trên điện thoại.
Trước đây nhiều loại sâu bệnh rất khó nhận biết. Bây giờ chị Hưng chỉ cần chụp ảnh bằng điện thoại và đưa vào ứng dụng là có thể biết tình trạng cây lúa và cách xử lý phù hợp.
Không chỉ áp dụng trên ruộng của mình, chị Hưng còn hướng dẫn và hỗ trợ nhiều hộ nông dân trong nhóm đại điền tiếp cận các phương thức canh tác mới, từ việc nhận diện sâu bệnh cho đến cách sử dụng các công cụ công nghệ trong sản xuất. Theo chị, khi nông dân có thêm kiến thức và công cụ phù hợp, việc canh tác trở nên chủ động hơn trước những biến động của thời tiết và sâu bệnh.